Bằng mọi giá phải được nhập ngũ
Sau “Sự kiện vịnh Bắc Bộ”, đế quốc Mỹ cho không quân ồ ạt ném bom bắn phá miền Bắc. Ông Nguyễn Mạnh Đẩu bộc bạch: “Cuộc chiến tranh phá hoại khốc liệt của giặc Mỹ kéo dài gần một thập kỉ với biết bao đổ nát, tang tóc, ập đến những người dân lành đầu trần, chân đất trên quê chúng tôi, xã Nghi Hợp, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An. Đấy là lần đầu tiên trong đời, tôi nhìn thấy máy bay phản lực Mỹ”. Từ ngày đó, quê hương ông bắt đầu bước vào cuộc sống thời chiến. Các gia đình đào hầm trong nhà, trong vườn để phòng tránh máy bay Mỹ oanh tạc. Dân quân luyện tập, canh gác trực chiến suốt ngày đêm, từ trong làng ra tận bãi biển Cửa Lò. Mọi người được quán triệt, cùng với việc phòng tránh, đánh trả máy bay Mỹ, còn phải sẵn sàng đánh tàu chiến khi chúng cập gần bờ. Đặc biệt là, sẵn sàng đánh quân địch đổ bộ bằng đường không và đường biển. Tháng 9-1964, Nguyễn Mạnh Đẩu được các chú cho vào dân quân. Tập dân quân chừng nửa tháng, cậu được chọn làm liên lạc cho trung đội dân quân của làng, có nhiệm vụ truyền đạt mọi chỉ thị, mệnh lệnh từ trung đội xuống các tiểu đội và các báo cáo từ trung đội lên xã đội. Ông Nguyễn Mạnh Đẩu nhớ lại: “Có lần, đang lúc nửa đêm, chú Lê Văn Ngọc - trung đội trưởng giao nhiệm vụ cho tôi ra Cửa Lò để truyền đạt mệnh lệnh cho tiểu đội canh gác ngoài đó. Mệnh lệnh thì dài, nhiều khoản mục, nhưng không được phép ghi lại bằng giấy. Chú Ngọc nói: “Tập cho quen, ngộ nhỡ trên đường kẻ địch bắt được. Việc quân cơ, sống để dạ chết mang đi, không để lại dấu tích gì cả…”. Tôi phải nhập tâm, một mình đi bộ gần 5 cây số ra truyền đạt lại với chú Thanh Tùng không sót một chữ. Mọi người khen tôi vừa gan vừa có trí nhớ tốt”.
Trong năm 1964, cấp trên đã triển khai mấy lần tuyển quân: Đợt 1 tháng 4, đợt 2 tháng 8, tiếp đến đợt 3 là tháng 10. Nguyễn Mạnh Đẩu trúng tuyển đợt 3. Ông kể: “Đúng ra, vì tôi bị viêm amidan không qua được phòng khám tai mũi họng. Tôi xin phiếu khám khác và nhờ anh Phan Ngọc Thịnh - bạn cùng làng, khám thế ở phòng đó. Còn các phòng khác, tôi qua được. Đến phòng kết luận cuối cùng của Hội đồng nghĩa vụ quân sự, tôi gặp anh Hoàng Văn Lượng, là người quen. Anh Lượng bảo tôi: “Em chưa đủ tuổi, không đi được đợt này!”. Tôi năn nỉ xin đi và được anh đồng ý khai tăng thêm cho tôi một tuổi. Thế là từ đó, trong lý lịch quân nhân của tôi ghi sinh năm 1947”. Ông tâm sự: “Đêm trước ngày lên đường, Ủy ban hành chính xã Nghi Hợp mời các thanh niên trúng tuyển dự liên hoan chia tay. Đêm dự liên hoan ở xã về, tôi tâm sự với mẹ. Mẹ tôi đã khóc rất nhiều. Suốt cả đêm, hai mẹ con không ngủ được. Cha thì chưa về, chị thì thoát ly ở xa. Mẹ ở nhà với ba em còn nhỏ dại… Sáng dậy, mẹ đưa cho tôi 7 đồng bạc trong số 12 đồng mẹ mới bán trái cây trong vườn. Phụ cấp binh nhì ngày đó là 5 đồng. Như vậy, số tiền mẹ cho tôi còn hơn một tháng phụ cấp. Nhét vội 7 đồng bạc vào túi quần, tôi ôm choàng lấy mẹ trước giờ chia tay trong nước mắt”. Ngày lên đường nhập ngũ của Nguyễn Mạnh Đẩu vì thế không có người đưa tiễn. Cậu thấy tủi thân, sống mũi cậu cay cay khi nhìn thấy vòng tay ấm áp của những người thân tiễn người đi chiến trận. Nhưng ý đã quyết, Nguyễn Mạnh Đẩu trở thành chiến sĩ giải phóng quân hoạt động trên những vùng chiến ác liệt: Lào, Quảng Trị - Thừa Thiên.

Những mặt trận gian khổ
Lúc mới nhập ngũ, ông Nguyễn Mạnh Đẩu được biên chế vào Sư đoàn 325B. Ngày 25-12-1964, toàn đơn vị lên đường đi B. Đơn vị hành quân từ miền Tây Quảng Bình vượt qua Đường 9 đi dọc Trường Sơn vào miền Nam. Nhưng rồi trên chặng đường hành quân ông bị sốt rét nặng, đơn vị phải gửi lại điều trị ở một cơ sở quân y của trạm giao liên thuộc Đoàn 559. Sau khi khỏi bệnh, ông Nguyễn Mạnh Đẩu được điều động về Tiểu đoàn 929 hoạt động ở chiến trường Trung Lào. Tại chiến trường này, đơn vị ông liên tục chiến đấu trên trục Đường 9 ở tỉnh Savanakhet (nước bạn Lào) nhằm bảo vệ hành lang phía Tây của đường dây chiến lược 559. Sau gần 2 năm chiến đấu trên chiến trường Lào, đơn vị ông chuyển về hoạt động ở chiến trường Bắc Quảng Trị - từ khu vực Hồ Khê, Đá Bạc và qua các trục đường 74, đường 75 đến An Cát Khê, Trung An. Ông kể: “Sau khi đi xem xét một lượt địa hình trong toàn khu vực, theo chỉ thị của cấp trên, Tiểu đoàn 7 Trung đoàn 29 chúng tôi bố trí trận địa đón lõng quân địch ở khu vực Hồ Khê, Đá Bạc. Theo dự kiến, sau khi phát hiện có chủ lực của ta hoạt động ở phía bắc Đường 9, quân Mỹ sẽ hành quân từ căn cứ Đầu Mầu ở Đường 9 đánh chiếm dọc theo triền núi đi về phía suối La La và đồi Không Tên”.
Quảng thời gian từ năm 1964- 1971 là thời kì khó khăn, quyết liệt nhất của bộ đội ta trên chiến trường miền Nam. Lúc cao điểm, lực lượng Mỹ lên tới hơn 500.000 quân và hơn 1 triệu quân ngụy với đủ các loại vũ khí, phương tiện chiến tranh hiện đại. Chiến trường Quảng Trị- Thừa Thiên được coi là nơi “so tài đọ sức” giữa chủ lực ta và địch, vì thế đây là nơi ác liệt nhất. Những địa danh, những trận đánh đã đi vào lịch sử chiến đấu oai hùng của quân đội ta mà mỗi khi nhắc tới ai cũng tự hào: Cồn Tiên, Dốc Miếu, Khe Sanh, Đường 9- Nam Lào… Ông Nguyễn Mạnh Đẩu tâm sự: “Ở chiến trường nào cũng vậy, đối với người lính khi ra trận luôn phải đối mặt với gian khổ, hi sinh. Nhưng quả thật, ở cái “chảo lửa” Quảng Trị-Thừa Thiên Huế, thì sự thử thách nghiệt ngã, ác liệt hơn nhiều nơi khác. Ngoài nhiều trận thắng giòn giã, cũng có một số trận quân ta bị thiệt hại nặng nề, như trận đánh Cao điểm 817- Tà Tách có mũi chiến đấu hi sinh không còn một người... Song bao trùm lên tất cả là tình đồng chí, đồng đội, mối quan hệ thân ái, chí tình giữa cấp trên cấp dưới… coi nhau như anh em một nhà. Điếu thuốc bẻ đôi, nhường nhau ngụm nước, sẻ chia niềm vui, nỗi buồn. Đó cũng chính là điểm tựa vững chắc, tin cậy để người chiến sĩ vượt qua thử thách, hoàn thành nhiệm vụ”. Cũng tại chiến trường Quảng Trị- Thừa Thiên Huế ác liệt này, người chính trị viên đại đội đặc công Nguyễn Mạnh Đẩu đã cùng đơn vị dũng cảm chiến đấu, lập nhiều chiến công xuất sắc. Bản thân ông đã không ít lần bị thương - có lúc vết thương quá nặng tưởng chừng không vượt qua nổi. Và trong những ngày cận kề với cái chết, ông đã viết nhật ký, viết với tâm thế của một người lính ra trận không xác định ngày về. Những dòng nhật ký được viết vội sau từng trận đánh, của một chàng trai trẻ muốn dành niềm tự hào cho cha. Ở trang đầu tiên của cuốn nhật ký, ông viết: “Sau khi tôi hy sinh, hãy gửi lại cho cha tôi để ông có quyền tự hào về con trai mình, đã sống và chiến đấu trên tuyến đầu…”. Ông Nguyễn Mạnh Đẩu đã trải qua nhiều trận chiến đấu ác liệt. Từ chiến trường Lào đến chiến trường Quảng Trị- Thừa Thiên Huế, đến chiến dịch Đường 9- Nam Lào ròng rã 7 năm với nhiều chiến công. Tiếp đến, ông Nguyễn Mạnh Đẩu đã trải qua 35 năm công tác tại Tổng Cục Chính Trị, trường Sĩ quan Lục quân 1 và Tổng cục Kỹ thuật với các vị trí công tác: Từ Trợ lý đến Cục trưởng Cục Chính sách, Phó Hiệu trưởng về Chính trị trường Sĩ quan Lục quân 1 rồi sau cùng là Chính ủy Tổng cục Kỹ thuật- Bộ Quốc phòng. Trải qua nhiều cương vị, Trung tướng Nguyễn Mạnh Đẩu luôn nỗ lực phấn đấu, hoàn thành tốt mọi nhiệm vụ được giao. Đặc biệt, ông để lại nhiều dấu ấn khi còn làm việc ở Cục Chính sách. Với cương vị Cục trưởng Cục Chính sách, ông đã tham mưu cho Tổng cục Chính trị, Đảng ủy Quân sự Trung ương, Bộ Quốc phòng và Nhà nước nhiều chính sách quan trọng, hiệu quả, có ý nghĩa lớn.
Vu Quy
Theo phapluatxahoi.vn
